NHỮNG CHUYỆN LY KÌ Ở QUÊ NỘI – CHUYỆN THỨ BA: MỘT ĐÊM Ở GÒ MẢ

Tác giả: Thanh Phú

Tôi nhớ đó là một năm sau ngày mất của ông Bốn Gang, mùa hè năm tôi chuẩn bị lên lớp sáu.

Làng có một khu đất lớn dùng để chôn người chết, mọi người đều gọi là khu gò mả. Cứ tưởng tượng thế này, nếu lấy nhà nội tôi là trung tâm, thì cái bầu nước ngày xưa ông nội cùng nhóm ông Bốn Gang vớt xác năm người đàn ông nhậu xỉn nằm ở phía đông, khu gò mả nằm ở phía bắc, nhà ông nội nằm đúng ngay ở cái góc vuông mà khu bầu nước và khu gò mả giao nhau.

Buổi sáng hôm đó, tôi với mấy đứa trong xóm kéo nhau ra gò mả đá banh. Thông thường bọn tôi hay đá ở cái sân đất của trường bình dân nằm ngay sau lưng nhà nội, nhưng sáng hôm đó không hiểu sao có hai chiếc ô tô loại bảy chỗ đậu trước sân từ bao giờ. Thành ra bọn nhóc không có chỗ chơi, phải kéo nhau ra gò mả.

Đất gò mả khá rộng. Ngoại trừ những cái mả được đầu tư xây xi măng và có bia mộ đàng hoàng, còn lại đa phần là những ụ cỏ nhô lên khỏi mặt đất, là mộ của những người đã được chôn từ lâu, không còn ai chăm sóc nên nằm trơ trọi ở đó, qua mấy đợt lũ đất bị nước cuốn dần đi, sau cùng rồi cũng phẳng băng như mặt đất bình thường. Bởi vậy, nếu không tính đến sự đáng sợ của những xác người đang nằm sâu dưới lòng đất, thì gò mả là một sân chơi lí tưởng cho bọn trẻ.

Đá banh chán, trời cũng nóng dần lên, vậy là cả bọn quyết định nghỉ, đợi chiều trời mát lại hẹn nhau đá banh tiếp. Về tới nhà, tôi đi ra giếng nước để rửa ráy tay chân mặt mũi.

Trong lúc đang hứng nước từ cái vòi ru-bi-nê bên thành giếng để rửa mặt tôi bỗng nghe có tiếng ồn ào từ phía sau nhà nội. Tôi liền chạy ra phía bức tường xi măng, kiễng chân lên và nhìn xuống sân trường bình dân. 

Tôi thấy hai chiếc xe ô tô ban sáng vẫn còn ở đó, chỉ khác là lúc này có khá nhiều người đang đứng cạnh hai chiếc xe nói chuyện rôm rả. Tôi đếm sơ sơ có khoảng hơn mười người, tất cả đều không phải người trong làng.

Nhóm người đó, nam có nữ có, tất cả đều ăn mặc rất gọn gàng. Từ bức tường nhà nội đến chỗ họ khá xa nên tôi không nghe rõ họ nói gì, chỉ nghe tiếng xì xào. Đột nhiên có một chị trong nhóm phát hiện thấy tôi đang đứng lấp ló thì từ từ tiến lại, ngước đầu lên, cười tươi rồi hỏi tôi bằng một giọng miền Nam: “Em ở trong nhà này phải hông, cho chị hỏi thăm mấy câu!”

Tôi bị khựng lại trong một chốc. Trước giờ tôi toàn chơi với bọn nhóc trong xóm, ít khi nào nói chuyện với người lớn. Giờ đây được một chị lạ hoắc, lại là người ở vùng khác hỏi chuyện bất ngờ nên tôi không biết phải nói gì, chỉ đứng đó lắp bắp ‘Dạ, dạ!’.

Chị ấy hỏi tiếp: “Giờ em có đang làm gì hông?”

Lúc đó mới tầm mười giờ hơn. Thông thường nhà tôi ăn trưa lúc mười hai giờ nên tôi trả lời lại với chị ấy là không.

Chị nghe vậy liền nói: “Bọn chị giờ có chuyện cần phải đi, một lát nữa sẽ quay lại. Chị sợ hai cái xe để đây bị người ta phá. Nhà em ở ngay đây vậy lâu lâu chạy ra chạy vô coi ngó dùm chị, có ai phá phách gì thì kêu người ta đi dùm!” 

Tính tôi ai nhờ việc gì, nếu giúp được sẽ giúp ngay. Chưa kể chị ấy nói chuyện bằng một thái độ rất thân thiện, nếu bình thường thì tôi sẽ trả lời ngay là sẽ giúp. Nhưng nhìn hai chiếc ô tô sang trọng, bỗng tôi sợ lỡ có đứa nào làm trầy xước, mình bị bắt đền thì chết.

Thấy tôi lưỡng lự, có lẽ là đoán ra được tôi sợ, nên chị móc một tờ tiền trong túi ra rồi với tay lên đưa cho tôi: “Nè, cho em hai ngàn, coi như là tiền coi xe cho bọn chị, có gì chị không bắt đền đâu mà lo!”

Nghe chị nói vậy, cộng thêm tờ hai ngàn, tôi không còn phân vân gì nữa và gật đầu cái rụp nhận luôn nhiệm vụ. Hồi đó mẹ tôi ít khi nào cho tiền tiêu vặt, tờ hai ngàn kia chẳng khác gì một gia tài. 

Chị ấy thấy tôi đã nhận tiền liền quay về với nhóm người còn lại. Chẳng bao lâu bọn họ bỏ đi. Chị còn không quên nháy mắt, chỉ về phía hai chiếc xe, có ý nhắc tôi nhớ canh dùm cho chị.

Ban đầu tôi cũng hăm hở lắm, nhận tiền của người ta rồi nên tôi xách cái ghế nhựa ra, đứng lên cho đầu cao hẳn qua bức tường, nhìn chăm chăm về phía hai chiếc xe.

Nhìn mãi đến phát chán, sân trường bình dân không có một bóng người qua lại, hai chiếc xe cứ nằm im lìm ở đó. Không biết là bao lâu, bỗng nghe tiếng má tôi từ trong nhà vọng ra kêu vào ăn cơm. Thế là tôi quên hẳn hai chiếc xe, chạy một mạch vào. Ăn trưa xong, tôi vào giường ông nội lăn ra ngủ một mạch. 

Đến chiều, nghe tiếng ồn ào ngoài cửa sổ, nhìn ra sân trường bình dân thì thấy nhóm người kia đã quay về chỗ hai chiếc xe từ bao giờ.

Giật mình, tôi ngớ người nhớ ra là mình quên mất cái nhiệm vụ phải trông xe. Dù sao cũng đã nhận tiền rồi nên tôi hơi áy náy. Sau khi rửa mặt cho tỉnh táo, tôi chạy ra sân trường bình dân, lại gần lí nhí xin lỗi. Chị chỉ cười, nói không sao đâu, hai chiếc xe còn nguyên không bị xước xác gì. Giờ nghĩ lại, có lẽ hồi đó chị cho tiền vì sợ tôi phá là chính chứ thực ra cũng chẳng cần tôi canh người khác.

Nghe chị nói vậy tôi cũng an tâm. Lúc đó tôi không về nhà ngay mà ngồi nán lại, chờ thử xem có đứa nào ra chơi không.

Ngồi nhìn nhóm người, tôi phát hiện có một người mặc đồ không giống những người còn lại. Đó là một người đàn ông, chắc khoảng năm mươi tuổi, tóc hoa tiêu, cắt ngắn gọn gàng, mặc một bộ đồ bà ba màu nâu đất, trước ngực đeo một chuỗi tràng hạt dài qua ngực. Nhìn mặt ông có vẻ nghiêm trang nên tôi không dám nhìn lâu.

Một lát sau, tôi nghe người đàn ông nói với những người còn lại trong nhóm: “Lúc nãy ở ngoài gò mả, cái bóng của người đó dẫn thầy ra giữa gò mả và chỉ tay xuống khoảng đất trống. Bóng người đó mờ nhạt lắm, thầy không nhìn rõ được mặt mũi. Thầy không thể chắc có phải là ba của anh Sang không!”

Một người đàn ông trung niên khác bên cạnh, có vẻ là người tên Sang, trả lời lại: “Vậy bây giờ làm sao đây thầy? Lỡ mình bốc lộn người thì tội chết!”

Người đàn ông được gọi là thầy kia suy nghĩ một lát rồi đáp lại: “Đằng nào cũng tới đây, thầy tính thế này. Giờ anh và mấy cháu hỏi thăm nhà trưởng thôn, nói sơ là mình từ xa tới, xin phép được khấn bái ở gò mả để tìm hài cốt của cha anh. Có thể buổi sáng này mình đi lúc đang có mặt trời, dương khí còn mạnh nên ông cụ không giao tiếp được. Nếu mà vào giờ âm cực thịnh là mười hai giờ đêm thì thầy có thể xác định được chính xác hơn. Trưởng thôn dù sao cũng là người trong làng, chắc là sẽ thông cảm. Chuyện không quá quan trọng, với cả lại có liên quan đến vấn đề tâm linh nên chắc sẽ không cần báo lên trên xã cho rắc rối!”

Mọi người đều gật đầu, có vẻ đã đồng ý với ý kiến của ông thầy. Ngay sau đó, chẳng ai bảo ai, cùng quay lại nhìn tôi, lúc này đang ngồi chơi dưới mái hiên trường bình dân.

Chị nhờ trông xe ban sáng tiến về phía tôi và hỏi thăm nhà trưởng thôn. Để không phải áy náy vì tờ hai ngàn đã nhận, tôi mau mắn dẫn đường cho bọn họ. 

Trên đường đi tôi biết được chị tên là Hà, là con gái lớn của ông bác tên Sang kia. Theo lời kể, gia đình chị ở tận Sài Gòn, hôm nay lặn lội ra tận đất Phú Yên này là để tìm hài cốt ông nội chị. Ông chị ngày xưa đi lính, chết nhưng không tìm được xác. Sau này bác Sang, ba của chị, mới nhờ thầy Ba, là một thầy tâm linh, chính là ông thầy mặc áo bà bà nâu kia, tìm hài cốt của ông cụ. Cuối cùng thì thầy Ba định vị được ông nội chị đang ở trong làng này.

Bác Sang, chị Hà, và cả thầy Ba vào nhà trưởng thôn, nói chuyện tầm nửa tiếng thì đi ra. Tôi vẫn còn muốn hóng chuyện nên ngồi lại đó. Lúc ra thấy bác Sang bắt tay với ông trưởng thôn thì tôi đoán là đã được đồng ý rồi.

Trên đường về lại đình làng tôi kéo tay chị Hà hỏi nhỏ khi nào thì thầy Ba làm phép.  Chị phân vân một lát, có vẻ là đang suy nghĩ có nên cho thằng nhỏ này biết không, lỡ đâu nửa đêm nó trốn nhà ra coi thì sao? Cuối cùng chị trả lời, đúng mười hai giờ đêm ngày mai thầy Ba sẽ lập đàn gọi hồn ông nội chị.

Biết được thông tin, cả đêm hôm đó tới tận sáng hôm sau lòng tôi cứ nôn nao. Tôi dù sợ ma, nhưng lần đầu tiên có thầy tâm linh về tận làng, lại chuẩn bị làm phép cầu hồn nên tôi cực kì muốn đi coi. Nhưng mà mười hai giờ đêm ở gò mả, thử hỏi có cha mẹ nào dám thả cho con mình đi?

Hóa ra, chuyện nửa đêm có người làm phép ở gò mả không chỉ mình tôi biết. Cả làng không biết nghe được từ lúc nào mà cứ bàn tán ầm ĩ cả lên. Cũng chẳng có gì khó hiểu, chắc là do ông trưởng thôn kể lại cho vợ, coi như là kể luôn cho cả làng.

Rốt cuộc tới tầm năm giờ chiều, ông trưởng thôn phải bật loa thông báo xin bà con đừng làm phiền để gia đình người ta tìm hài cốt. Đêm nay ông trưởng thôn chỉ cho phép một số thanh niên trai trẻ đi theo để ra phụ việc, còn lại xin ở nhà.

Ông nội tôi lúc này đã gần bảy mươi, dù không còn trai trẻ nhưng vẫn rất khỏe mạnh linh hoạt. Ông nội cũng rất muốn đi coi thầy tâm linh làm phép ra sao, cho nên từ chiều đã nói trước với bà nội rằng tối sẽ xin đi theo ông trưởng thôn ra gò mả.

Biết ông nội là cứu cánh duy nhất để mình được đi nên tôi bắt đầu nghĩ cách.

Tối đó, chờ ba má dọn hàng và đóng tiệm, tôi nằm lì trong phòng khách nhà ông nội coi phim. Tầm giờ đó tôi nhớ rất rõ là tivi đang chiếu bộ phim ‘Thần điêu đại hiệp’ của Cổ Thiên Lạc và Lý Nhược Đồng. Ba má sau khi đóng cửa tiệm thì kêu tôi ra xe đi về. Tôi nằm yên đó, nói vọng ra là đang coi phim Dương Quá, không bỏ được, hay là tối nay để tôi ngủ lại nhà nội. Ba má tôi nghe vậy cũng chẳng nói gì thêm vì trước giờ tôi cũng hay ngủ lại nhà nội, chỉ dặn nhớ ngủ sớm, rồi hai người lái xe chở theo con em út về nhà. Vậy là coi như thành công một nửa.

Ông nội chẳng hứng thú gì mấy với phim ảnh, đang ngồi chờ tới bảy giờ coi Thời sự. Tôi liền mon men lại gần, xin ông nội tối nay cho đi chung ra gò mả coi người ta tìm hài cốt. Ông nội cốc đầu tôi một cái, vừa cười vừa chửi: “Cha mày, thì ra là đã tính ngay từ đầu, muốn đi thì đi, mà tối nhớ đi sát tao, mày còn nhỏ mà đi tách ra dễ bị ma nó bắt hồn lắm!” 

Đúng mười một giờ hai ông cháu chuẩn bị đồ đạc đi ra gò mả. Ông nội xách theo một cái đèn pin cầm tay, loại đèn pin hình hộp chữ nhật chạy bằng bình ác-qui nhỏ, bên trên có tay cầm. Tôi thì cầm cây đèn pin loại ống bình thường, chạy bằng hai viên pin con ó. Cây đèn pin của tôi nhỏ, cầm chả sáng được bao nhiêu, nhưng dù sao cầm cái gì đó sáng trong tay cũng đỡ sợ hơn là đi tay không. Làng khá nhỏ, nên đi bộ từ nhà nội chưa đến mười phút đã tới gò mả. 

Bây giờ đã gần nửa đêm, trời tối om om, thậm chí còn không thấy trăng. Ở gò mả đầy cỏ dại và những bụi cây thấp, khắp nơi là tiếng dế kêu inh ỏi, thi thoảng lại chen thêm tiếng ồm ộp của lũ ếch nhái ễnh ương. 

Bước trên con đường mòn đi xuyên gò mả, tay tôi bấu chặt tay ông nội, hai chân sợ đến díu hết cả lại. Ánh sáng từ đèn pin không chiếu thẳng mà cứ dập dờn theo từng bước chân, rọi lướt lên những ngôi mả đang lạnh lẽo nằm đó. Thi thoảng ánh đèn pin lướt qua mấy chữ Tàu sơn đỏ chót được khắc trên các bia mộ làm tôi giật mình thon thót, trong đầu cứ tưởng tượng đến cảnh âm tỳ địa phủ trong mấy bộ phim liêu trai của Trung Quốc vẫn hay chiếu trên tivi. 

Níu tay ông nội tôi chỉ dám bước thẳng, nhìn về phía trước, không dám quay sang hai bên. Mỗi lần bước qua một nấm mồ nhô lên, tim tôi lại thót lên một cái, có cảm giác như có ai đang đứng sau lưng nhìn mình, chỉ cần quay lại là sẽ thấy những gương mặt nhợt nhạt không còn sinh khí.

Nhìn lên ông nội, tôi không hiểu vì sao ông nội lại gan như vậy, chẳng có vẻ gì là sợ sệt. Mấy chục năm trước, ông nội là một anh chồng trong đêm run rẩy chở vợ đến chỗ gốc đa cúng bái xin tha tội. Mấy chục năm sau, anh chồng ấy giờ là ông nội, trong đêm tối nắm chặt tay cháu mình đi băng băng giữa gò mả, không mảy may sợ hãi. 

Nhìn thấy phía xa xa có ánh sáng chập chờn cùng những tiếng xì xào, tôi biết là mình sắp tới nơi. Cảm giác có người phía trước cũng làm tôi đỡ sợ hẳn. Dẫu vậy, tay tôi vẫn cầm chặt tay của ông nội, không dám rời ra. 

Đứng ở đó là nhóm người nhà chị Hà, cùng với ông trưởng thôn và một số cậu trai trẻ. Trên khoảng đất lúc này được soi sáng bằng hàng chục cây đèn pin chạy bằng ác-qui giống của ông nội. Mọi người đang đứng trước một chiếc bàn dài hình chữ nhật, bên trên bày hoa quả, bát hương, và một cái đĩa sứ có đặt một xấp vàng mã trên đó. 

Lúc này vẫn chưa tới giờ. Thầy Ba đang ngồi xếp bằng trên tấm chiếu trước bàn cúng, hai mắt nhắm nghiền, tay cầm chuỗi tràng hạt, miệng lẩm bẩm đọc kinh. Bác Sang, chị Hà, mà mấy người thân nhân đứng xung quanh, hai tay chắp lại để trước ngực, nói chuyện thì thầm với nhau. Ở bên này, ông nội, ông trưởng thôn, và mấy cậu trai cũng tụm lại với nhau, không giấu được sự hiếu kì khi được xem thầy tâm linh làm phép. 

Mọi người liên tục nhìn đồng hồ, chờ giờ linh. Đúng mười hai giờ, thầy Ba quay lại nói với gia đình chị Hà là thầy chuẩn bị làm lễ gọi ông cụ.

Lần đầu tiên chứng kiến thầy tâm linh làm lễ, nó hoàn toàn khác xa những gì con tưởng tượng. Thầy Ba không cầm kiếm gỗ đâm xuyên qua mấy tờ vàng mã rồi ngậm rượu phun phèo phèo như trong phim Trung Quốc, cũng không trợn ngược mắt như bị nhập hồn rồi nhảy tưng tưng, nói bằng một cái giọng eo éo kì lạ như mấy bà đồng trong phim Việt Nam. Thầy Ba chỉ từ từ đứng dậy, kêu bác Sang đốt hết một bó nhang to, rồi chia ra cho con cháu mỗi người một cây.

Số còn lại thầy Ba cầm hết, cúi người vái một vái trước bàn đồ cúng, sau đó đứng thẳng người lên mà khấn: “Cụ ông Trần Văn Quý nếu đang ở đây xin ra mặt để tôi được hỏi chuyện. Hôm nay tôi đi cùng với con trai cụ đến để tìm và mang hài cốt cụ về quê hương. Nếu cụ đang ở đây xin hãy ra mặt và hướng dẫn tôi!”

Sau khi khấn xong, thầy Ba tiếp tục vái thêm mấy cái nữa. Mọi người xung quanh đứng im lặng và theo dõi. Thầy Ba sau khi vái thì ngẩng đầu lên và nhìn phía bàn đồ lễ. Nét mặt thầy bỗng nhiên có chút thay đổi. Hình như thầy đang nhìn vào một thứ gì đó trước mặt. Mọi người xung quanh ai cũng nhìn ra điều kì lạ ấy, nhưng chẳng ai biết là thầy Ba đang nhìn gì.

Thầy Ba sau đó nói với mọi người: “Anh Sang với cháu Hà ở lại đây với thầy. Những người còn lại xin phép đi ra xa một chút!”

Mọi người không ai bảo ai liền từ từ lùi thật xa ra khu làm lễ. Tôi vẫn nắm chặt tay ông nội, từ từ lùi dần ra. Có vẻ như khi không còn thầy Ba bên cạnh, tôi có cảm giác là mọi người đứng sát lại với nhau hơn.

Ông nội với ông trưởng thôn, xoay qua nói chuyện với nhau. Cả hai nghe đến cái tên Trần Văn Quý đều cảm thấy hơi quen, hình như đã nghe qua ở đâu rồi. Hai người cố nhớ lại liệu trong xóm mình từng có ai có cái tên ấy không, nhưng nghĩ mãi vẫn không ra.

Ông nội chép miệng: “Anh Bốn nếu còn sống chắc là ổng biết. Ổng sống ở làng này lâu nhất, nếu có ai tên Trần Văn Quý thì chắc chắn ổng sẽ nhận ra”

Nghe nội nhắc tới ông Bốn Gang tôi chợt rùng mình. Ông Bốn sau khi chết, xác của ông được chôn đâu đó trong cái gò mả này. Tim tôi đập bình bịch, sợ ông Bốn Gang nghe người ta nhắc đến tên mình sẽ hiện về hỏi thăm. Tôi núp hẳn người ra sau lưng ông nội, chỉ ló mỗi cái đầu, ngó nghiêng xung quanh xem liệu có cái bóng trắng nào của ông Bốn hiện về không. 

Tầm mười phút sau, mọi người thấy ở phía xa thầy Ba ngoắc tay vẫy mọi người, báo hiệu mọi người quay trở lại. Lúc tới nơi thì thấy bác Sang và chị Hà đang đứng đó, mắt đỏ hoe. Thầy Ba kể lại cho mọi người về những gì với xảy ra.  

Thầy Ba sau khi làm lễ và khấn thì có một vong hiện ra và giao tiếp với thầy. Vong này không phải là của ông cụ Trần Văn Quý, mà là vong của một ông cụ khác trong xóm vừa mới chết năm ngoái, nói tên mình là Bốn Gang.

Nghe tới đây ông nội với trưởng thôn đưa mắt nhìn nhau, về phần tôi thì hai chân bắt đầu run lẩy bẩy. Thì ra cái bóng ngày hôm qua dẫn thầy Ba đi và chỉ tay vào khoảng đất này chính là vong hồn của ông Bốn. 

Ngày xưa, sau cái lần vớt được năm người nhậu say bị chết đuối sau bầu nước, chính ông Bốn cùng mấy cụ có chức sắc trong làng trực tiếp chỉ đạo việc làm ma chay, chôn cất.

Lúc đào mấy cái huyệt ở gò mả, vô tình nhóm người đào huyệt tìm thấy một cái bọc ni lông, bên trong là một số giấy tờ tất cả đã cũ nát, hầu như không thể nhận ra nội dung, duy chỉ có một mảnh giấy hình chữ nhật nhỏ nằm ở chính giữa là đỡ bị hư hỏng nhất, quay lớp mực tím lòe nhòe vẫn có thể đọc ra một cái tên Trần Văn Quý. Sau đó người trong cả thôn đều được hỏi liệu có ai biết người này không nhưng rốt cuộc không ai biết.

Nghe đến đây ông nội mới nhớ ra, quả là hồi đó có một đợt cả làng bàn tán hỏi thăm nhau về cái tên kia, hèn chi ông nội thấy nó quen quen.

Hỏi mãi không ai biết chủ nhân của cái bọc ni lông, dẫu vậy ông Bốn cũng sợ biết đâu dưới chỗ này đang có người nằm nên kêu đám người đào huyệt lấp nó lại, chuyển qua đào chỗ khác. Họ đâu biết rằng, chỉ cần đào sâu thêm một chút nữa thì họ sẽ nhìn thấy bên dưới lớp đất là một bộ hài cốt.

Vong của ông Bốn Gang nói cho thầy Ba rằng bên dưới khoảng đất này là chỗ khi xưa đào được bọc giấy tờ của người tên Trần Văn Quý.  Ông Bốn sau khi mất được chôn ở gò mả, chưa từng nhìn thấy vong của người tên Trần Văn Quý kia. Thầy Ba cho rằng có lẽ vì ông cụ đã chết quá lâu nên vong hồn không còn ở trần thế nữa mà đã đi đến ‘nơi khác’ rồi.

Mọi người nghe kể xong đều đã rõ sự tình. Thầy Ba xác định nơi này chính xác là nơi chôn bộ hài cốt của ông cụ Quý, bây giờ mọi người sẽ về nhà nghỉ ngơi, sáng hôm sau sẽ bốc mộ.

Tối đó về nhà với nội người tôi cứ run vì sợ. Ôm chặt ông nội, tôi ngủ một giấc tới sáng. 

Khi thức dậy trời đã quá nửa buổi, ba má tôi đã lên mở tiệm từ lúc nào. Nhớ ra ngày hôm nay là ngày bốc mộ, tôi liền rửa mặt rồi định chạy đi rủ tụi anh em thằng Lĩnh ra gò mả. Nhưng chưa kịp ra khỏi nhà tôi đã bị má kêu lại.

Thì ra má đã biết tối qua tôi đi ra gò mả, chắc là ông nội kể. Thế là cả ngày hôm đó tôi bị bắt ở nhà làm bài tập, không được ra ngoài vì cái tội dám bày trò qua mặt. Không thể cãi được, tôi đành ở nhà nguyên ngày, tiếc nuối nhìn mấy đứa bạn í ới rủ nhau ra gò mả xem người ta bốc mộ.

Chiều đó, qua lời ông nội kể lại, thì việc bốc mộ diễn ra rất nhanh, chỉ trong một buổi trưa mọi người đã đào sâu hơn hai mét đất. Vì được ông Bốn Gang chỉ chính xác vị trí nên chỉ đào một lần là nhìn thấy bộ hài cốt đang nằm sâu bên dưới. Nó nhanh chóng được lấy lên, đặt gọn gàng vào một túi vải đã chuẩn bị sẵn, rồi được thầy Ba và bác Sang thành kính rước vào trong xe. 

Ngay chiều hôm đó hai chiếc xe ô tô mang theo bộ hài cốt của ông cụ Trần Văn Quý rời khỏi làng, trả lại sân trường bình dân cho bọn trẻ trong xóm. 

Lúc kể lại chuyện bốc mộ, ông nội không quên lấy từ trong túi ra một bịch kẹo gừng. Bịch kẹo là của chị Hà đưa cho ông nội, nhờ gửi lại cho cậu em đã giúp gia đình chị rất nhiều trong chuyến hành trình khó khăn lần này.

HẾT

Ngày 27 tháng 7, 2019

REPOST VUI LÒNG GHI KÈM TÊN TÁC GIẢ VÀ DẪN LINK NGUỒN

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s