NHỮNG CHUYỆN LY KÌ Ở QUÊ NỘI – CHUYỆN THỨ NĂM: CÁI GIẾNG CẠN

Tác giả: Thanh Phú

Ngày đó, đối với bọn nhóc chúng tôi, trường bình dân luôn là sân chơi lí tưởng nhất. 

Thực ra, dù mọi người quen gọi là trường bình dân nhưng chính ra nó là đình làng. Mỗi năm ở làng nội tôi có tầm ba bốn lễ hội lớn. Trường bình dân, hay đình làng, là nơi tổ chức hội. Ngày thường, trường bình dân được ngăn làm hai gian bằng nhau, gian bên trái là nơi chứa đồ lễ, chiêng trống, và một cái áo quan để dùng cho ma chay trong làng, gian bên phải được cho mượn để mở trường mẫu giáo cho mấy đứa con nít.

Trước mặt trường bình dân là một cái sân đất lớn, đây cũng chính là sân chơi của chúng tôi. Nó nằm ngay sau lưng nhà nội. Nhờ vậy, cứ mỗi buổi chiều, tôi chỉ cần ngồi ở phòng khách nhà nội nhìn ra, nếu thấy mấy đứa bạn tụ tập gần đông đủ thì sẽ chạy xuống, không cần phải ra sớm ngồi chờ cho nắng nôi. 

Chiều hôm đó, đúng hai giờ chiều, sau giấc ngủ trưa ngắn, tôi rửa mặt và chạy xuống trường bình dân nhập hội với đám bạn đang ngồi túm tụm tám chuyện dưới tán tre.

Kể từ sau lần thầy Ba tới làng, nó trở thành câu chuyện bàn luận không dứt suốt một thời gian dài. Làng nội tôi nhỏ, chẳng mấy khi có việc gì đặc biệt nên lần đi tìm hài cốt này của gia đình chị Hà có thể gọi là một sự kiện lớn. Khắp mọi ngõ ngách, đâu đâu cũng thấy người ta nói về chuyện tìm cốt. Bọn nhỏ trong làng cũng không nằm ngoài dòng chảy. Tụi nó đa phần đều có mặt trong cái ngày hài cốt của ông cụ Trần Văn Quý được lấy lên nên đứa nào cũng vô cùng hào hứng. Chỉ có tôi, ngồi nghe tụi nó kể mà không chen được câu nào, bụng cứ tức anh ách.

Thực ra tôi thừa biết làm gì có đứa nào được lại gần chỗ đào cốt. Tụi nó cũng như những người khác trong làng, phải đứng ở một khoảng rất xa. Chưa kể tụi nó toàn con nít, sức mấy mà chen lấn lại với đám đông toàn người là người.

Thằng Địa là cái đứa lớn miệng nhất, nó vênh mặt: “Tao đứng gần nhất, lúc cái xương đùi được lấy lên tao thấy rõ từng cái lỗ xốp một!”

Sau này, lúc chơi bắn bi với anh em hai thằng Nhân Nghĩa, nghe tụi nó nói tôi mới biết lúc đó thằng Địa đứng ngay cạnh anh em nó chứ đâu, phải chen lấn đến bở cả hơi tai để len vào trong, làm gì có chuyện mà đứng gần như nó kể. Nhưng lúc này giọng thằng Địa chắc nịch, với cả tụi Nhân Nghĩa cũng chả buồn cải chính, thành ra mấy đứa ngồi nghe cứ răm rắp tin lời nó.

So với câu chuyện bịa của thằng Địa thì chuyện tôi cùng ông nội ra gò mả xem trực tiếp thầy Ba làm lễ cầu hồn còn hấp dẫn gấp ngàn lần. Nhưng nếu tôi kể ra chuyện đó thì gần như sẽ bị cả đám cho là bịa. Thứ nhất đêm đó không có mấy người đi, lại không có đứa nhỏ nào, thành ra tôi hoàn toàn chả có ai làm nhân chứng. Thứ hai câu chuyện mà tôi tận mắt chứng kiến hoàn toàn nhuốm màu hư ảo, tin chuyện của tôi chả khác nào công nhận chuyện tụi nó thấy người ta đào cốt chả là cái đinh gì. Đoán được phần nào phản ứng đó nên tôi đành xụi lơ ngồi nghe đi nghe lại câu chuyện chán ngắt của thằng Địa.

Có lẽ tôi không phải là người duy nhất phát ngấy. Thằng Tô nãy giờ ngồi im bỗng chen ngang: “Có mỗi cái chuyện hốt cốt mà mấy ngày nay đi đâu cũng nghe nói. Chuyện đó chưa bằng một góc chuyện của chị Lảnh tao!”

Thằng Địa bị cắt lời nên hơi bực: “Ai cũng kể nhưng chỉ có tao là thấy được tận mắt, ghê là ở chỗ đó!”

Lời phân bua của thằng Địa chẳng hề có một chút tác dụng bởi toàn bộ sự quan tâm lúc này đã tập trung về phía thằng Tô.

Thấy mình bỗng trở nên quan trọng, thằng Tô làm mặt thần bí, chỉ tay về phía cái giếng cạn ở trước sân trường bình dân và hỏi: “Tụi mày nhìn cái giếng kia đi, tụi mày có biết lịch sử của nó không?”

Tụi tôi chơi ở sân trường bình dân bao lâu nay nhưng quả thật chưa đứa nào từng thắc mắc về nguồn gốc cái giếng. Do vậy sau khi nghe thằng Tô hỏi cả bọn liền nhao nhao lên đầy thích thú.

Tôi cũng như tụi nó, hoàn toàn chẳng biết cái giếng mà tôi vẫn nhìn thấy bấy lâu có lịch sử gì đặc biệt. Nhưng nếu nói về nguồn gốc của trường bình dân, hay đình làng, thì tôi lại rành một cây.

Đình làng được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1890. Tôi biết được điều này bởi có lần theo ông nội đi ăn đám giỗ họ có nghe mấy ông cụ lớn kể lại. Trong sách phả tộc được lưu giữ ở nhà thờ họ có ghi chép lại một sự kiện lớn: năm 1890 họ Nguyễn Tung đóng góp gần như là toàn bộ sức người và sức của để xây nên đình làng Phúc Bằng.

Theo lời kể, họ chúng tôi bắt nguồn từ thời ông Nguyễn Tung Sự, là quan tứ phẩm cuối thời vua Gia Long, giữ chức quan Bảo Sự, chuyên ghi chép lại các sự việc lớn xảy ra ở phủ (hay tỉnh) của mình. Nói cho dễ hiểu thì chức vụ của ông cụ chính là nhà sử học cấp tỉnh.

Tới thời vua Minh Mạng, chức vụ này được bãi bỏ, việc ghi sử đều giao cả cho Hàn lâm viện. Ông Nguyễn Tung Sự lúc này cũng đã lớn tuổi nên được vua cho cáo lão hồi hương và ban đất đai tiền bạc để dưỡng già.

Ông cụ là người duy nhất của cả huyện làm quan tới hàm tứ phẩm nên được rất nhiều người ngưỡng mộ. Những người mang họ Nguyễn khi đó, cộng thêm một phần những người mang họ khác, vì yêu quí ông cụ nên tự nguyện làm giấy đổi sang họ của ông. Từ đó, dòng họ Nguyễn Tung tiếp tục phát triển, phân thành nhiều nhánh và được thờ phụng ở nhiều nơi.

Họ Nguyễn của tôi ở làng Phúc Bằng cũng là một nhánh nhỏ của họ Nguyễn Tung. Bởi vậy, suốt bao đời nay, các ông cụ luôn nhắc nhở con cháu về nguồn gốc của họ mình và những gì mà dòng họ mình cống hiến cho làng, đặc biệt là ngôi đình được xây bằng tiền và sức của người trong họ.

Đình làng ban đầu vốn được xây dựng theo lối kiến trúc kiểu Á Đông bấy giờ: khung chính được dựng từ những cột gỗ lớn, tường bằng gạch, trên nóc có những thanh xà lớn, trên mái lợp ngói vảy cá, hai bên là hai con rồng đang ngậm ngọc.

Tại thời điểm đó đình làng có vai trò vô cùng quan trọng bởi lúc này mỗi năm ở làng có đến hơn chục hội. Đình làng được chăm chút vô cùng kĩ lưỡng, có người thường xuyên lau dọn. Sau này, theo dòng biến động của lịch sử, cuộc sống của con người trở nên khó khăn, các lễ hội ít dần đi, đình làng cũng mất dần vai trò của mình.

Tới thời Pháp thuộc, người Pháp cho ‘nâng cấp’ đình làng. Gọi là nâng cấp, nhưng thực chất là phá bỏ lối kiến trúc phương Đông cũ kĩ, thay vào đó xây lại một đình làng hoàn toàn mới, với các góc cạnh vuông vức hơn, các cột trụ gỗ tròn được thay thế bằng các cột xi măng, mái vẫn lợp từ ngói vảy cá, chỉ khác là không còn hai con rồng nữa.

Cũng kể từ đó, trong mắt mọi người đình làng không còn là một nơi uy nghiêm như xưa. Dần dần, người ta coi nó chỉ như là nơi chứa đồ lễ, chiêng trống, cờ xí.

Sau này, khi đất nước đã thống nhất, nhà nước tiếp tục tiến hành chương trình bình dân học vụ vốn đã bắt đầu từ sau năm 1945 để phổ cập chữ quốc ngữ. Đình làng lúc này được trưng dụng để làm nơi dạy chữ. Cái tên gọi đình làng từ từ mất hẳn, thay vào đó người ta gọi nó là trường bình dân. Cho đến tận bây giờ, khi mà đã qua lâu rồi cái thời bình dân học vụ, mọi người vẫn gọi nó là trường bình dân vì đã quen miệng. Dù vậy, tôi đoán rằng chẳng bao lâu nó sẽ bị người ta gọi bằng tên mới bởi suốt mấy năm nay nó được cho mượn để mở lớp mẫu giáo cho lũ con nít trong xóm.

Chuyện sau này nó có được đổi tên hay không thì tôi không biết. Ngay lúc câu chuyện tôi kể xảy ra thì mọi người vẫn gọi nó là trường bình dân.

Thằng Tô sau khi chỉ tay về cái giếng liền nhìn một lượt từng gương mặt ngơ ngác của chúng tôi rồi chậm rãi kể: “Theo lời ông nội tao, hồi trước cái giếng không có cạn như bây giờ. Ngày xưa trong làng mình không phải nhà nào cũng có điều kiện để đào giếng, nên các cụ trong làng quyết định cho đào một cái giếng nước ở phía trước trường bình dân. Về sau, dần dần nhà nào cũng có giếng riêng, thành ra không còn mấy ai ra đây để lấy nước nữa.”

“Cho đến một lần có một đứa nhỏ trong làng không biết chạy nhảy ra sao mà té xuống giếng, may có mấy đứa chơi cùng hô hoáng lên nên người lớn ra cứu kịp. Từ sau vụ đó, thấy cái giếng không an toàn cho mấy đứa nhỏ, mấy cụ trong làng quyết định lấp lại. Cái giếng được đổ đầy đất đá, gạch ngói, xi măng vỡ do các gia đình đóng góp. Ban đầu nó được lấp đầy tới tận miệng. Qua mấy chục năm, trải qua mưa gió, lũ lụt, đất đá bên trong một phần bị cuốn đi, một phần bị lún xuống, thành ra giờ đây bên trong giếng có một khoảng trống, bọn nhỏ tụi mình đứng ở trong thì thành giếng chỉ cao tới ngực. Cũng nhờ vậy mà bọn mình có chỗ chui ra chui vào làm chỗ trốn lúc chơi năm mười.”

Nghe thằng Tô kể tụi tôi như được mở mắt, thì ra cái giếng cạn bấy lâu chúng tôi nhìn thấy hóa ra cũng có một lịch sử riêng. Cái giếng nằm ở bên phải của sân đất. Nền giếng được xây bằng xi măng, cao hơn mặt sân tầm hai gang tay trẻ nhỏ, thành giếng được xây bằng gạch, bên ngoài được quét một lớp xi măng mỏng. Do đã bị bỏ từ lâu nên nền giếng nhiều chỗ bị nứt vỡ và sụp hẳn xuống, từ chỗ nứt mọc đầy cỏ dại. Thành giếng cũng chẳng hơn gì, khắp nơi lớp xi măng vỡ nứt đủ chỗ để lộ lớp gạch bên dưới bị rong rêu phủ đầy lên.

Ngày nay, dù mất đi công dụng chính là để lấy nước, cái giếng vẫn còn được sử dụng theo một cách khác. Cái sân đất của trường bình dân khá nhỏ, nhưng số lượng bọn nhỏ trong xóm lại quá đông. Những buổi chiều tụ tập để đá banh, nếu đếm sơ sơ cũng phải gần hai chục đứa. Đông như vậy thì chẳng thể nào vào sân cùng một lúc được. Thành ra hai chục đứa được chia thành bốn đội, cứ hai đội đá thì hai đội ở ngoài chờ, đội nào bị ghi bàn thì đi ra cho đội khác vào. Những lúc như vậy, cái nền giếng trở thành băng ghế lí tưởng cho hai đội bên ngoài ngồi chờ tới lượt mình.

Cái giếng đối với chúng tôi thân thuộc là vậy, tới giờ lại được nghe về nguồn gốc của nó làm cả bọn vô cùng hào hứng. Ngay cả thằng Địa, đứa lúc nãy bực mình vì bị cắt ngang thì bây giờ cũng nhiệt tình tham gia bàn luận rôm rả. Đứa nào cũng muốn biết nhiều hơn nữa nên mỗi đứa một câu ùa vào hỏi thằng Tô.

Đáp lại những câu hỏi đang đổ như mưa xuống đầu mình, thằng Tô đáp một câu khiến cả bọn chưng hửng: “Ông nội tao kể vậy thì tao biết vậy thôi, tụi mày hỏi tao tao cũng chẳng biết gì hơn.”

Nghe nó trả lời tôi liền cảm thấy có chút thất vọng. Tôi tính khi về nhà sẽ hỏi thêm ông nội. Đột nhiên tôi nhớ ra câu chuyện mà thằng Tô định kể là về chị Lảnh của nó chứ chẳng phải là về cái giếng, tôi liền nhắc: “Mà chị Lảnh mày thì có liên quan gì tới cái giếng?”

Thằng Tô thấy có người giúp đưa câu chuyện về chủ đề chính liền nhìn tôi có ý cảm kích và bắt đầu kể: “Cái này tao kể tụi mày nghe chứ đừng kể lại cho bà Lảnh, bả mà nghe là tao kể thì chắc bả búng nát tai tao. Chuyện là bà Lảnh bị cái chứng hay đi tè đêm. Một tuần bảy ngày thì hết năm đêm là bả phải mò dậy nửa đêm để đi tè. Hồi đầu má tao hay dậy để dắt bả ra giếng, sau này thấy bà Lảnh có thể tự đi được mà không sợ nữa thì má tao mới để cho bả tự đi.”

Ban đầu khi nghe thằng Tô so chuyện của chị Lảnh nó với chuyện đào cốt cả bọn đã định sẵn trong đầu sẽ được nghe một câu chuyện mang đầy màu sắc thần bí. Ngờ đâu tới lúc nó kể thì câu nào câu nấy đều nói về cái sự đi tè đêm của chị Lảnh. Thành ra cả bọn nghe tới đâu thì lăn ra cười tới đó. Tôi cũng chẳng thể nào nhịn được, quay qua ôm thằng Lĩnh anh mà cười ngặt nghẽo.

Thằng Tô quả thật định sẽ kể một câu chuyện ly kì, dè đâu đám thính giả bất lịch sự tụi tôi mới nghe khúc đầu đã ôm nhau cười hô hố làm nó giận tím mặt. Nó cứng giọng hỏi cả bọn: “Tụi bay muốn nghe nữa hay nghỉ?”

Tụi tôi sợ nó dỗi không kể nữa liền nín bặt ngay tức khắc. Lạ một cái, cả bọn chẳng ai bảo ai lại im lặng gần như cũng một lúc, thành ra không khí lúc đó bỗng trở nên vô cùng kì quặc. Hệ quả tất yếu là cả bọn lại phá ra cười vì sự trùng hợp này.

Thằng Tô bất lực chờ cho bọn tôi cười hết mới bắt đầu kể tiếp: “Tháng trước, một buổi tối chị Lảnh thức dậy giữa đêm để đi tè. Nghe bả kể, giống như mọi lần, bả mắt nhắm mắt mở đi ra chỗ cái giếng cạnh bụi chuối bên hông nhà tao. Lúc tè xong, bả kéo quần đứng dậy, định sẽ đi vào nhà ngủ tiếp nhưng đi mãi chẳng thấy cái cửa đâu. Nhà tao thì tụi mày biết rồi, bụi chuối với cái giếng nằm ngay bên hông nhà, chỉ cần mở cửa bước ra rẽ trái là tới ngay. Vậy mà chị Lảnh tao đi quanh cả buổi vẫn không thấy đường về.”

“Bả bắt đầu nhìn xung quanh. Tối hôm đó trời không có trăng nên cứ tối om om, bả cố mở to mắt nhìn xung quanh nhưng chẳng thấy gì. Bả cố tìm chỗ cái giếng với bụi chuối quen thuộc nhưng chẳng thấy đâu, cứ đứng chết trân một chỗ. Bỗng nhiên bà Lảnh cảm thấy có ai đó ở sau lưng kéo áo mình. Bả mừng thầm trong bụng vì nghĩ là má đi ra tìm, liền xoay người lại. Lúc nhìn về trước, bả thấy người đứng trước mặt không phải má mà là một thằng nhỏ lạ hoắc đứng giương cặp mắt sáng như mắt mèo nhìn chằm chằm vào mình. Bả hét to một tiếng lớn rồi ngất luôn tại chỗ.”

“Ông nội tao ở trong nhà nghe có tiếng lạ liền thức dậy, xách đèn pin ra soi. Ba má tao cũng thức dậy, không thấy bà Lảnh đâu, liền hoảng hốt báo lại cho ông nội. Vậy là cả nhà tao đêm đó bật điện sáng trưng, bà nội tao cũng dậy phụ ba má tao với ông nội đi tìm. Tao cũng định chạy ra nhưng ba má tao không cho, bắt phải ở yên trong nhà. Ông nội tao nhớ lại tiếng hét nghe được ở rất gần. Nghĩ tới cái giếng cạn trước sân trường bình dân, ông nội tao bỗng có linh tính gì đấy liền chạy ra đó tìm. Quả nhiên ông nội thấy chị Lảnh đang nằm trên mặt đất kế bên cái nền giếng.”

Thằng Tô kể hết trong một hơi. Bọn tôi nín thở ngồi nghe chuyện từ đầu tới cuối mà không phát ra một tiếng động, một phần vì câu chuyện mà thằng Tô kể rất lôi cuốn, một phần vì đứa nào cũng đang sợ dựng hết lông gáy nên cứ túm tụm ngồi nép sát vào nhau.

Thằng Tô chờ những cái miệng đang há ra của tụi tôi từ từ khép lại mới hỏi: “Tụi bay thấy sao, có hay hơn chuyện đào mả gấp mấy lần không?”

Câu đó thì nó không cần phải hỏi, so với chuyện của thằng Địa thì tất nhiên là hay hơn cả chục lần. Nhà chị em thằng Tô thì tôi quá rõ. Tôi đã bao lần chạy vào nhà nó uống nước ké. Nhà thằng Tô, đúng hơn là nhà ông nội nó, nằm ngay sau lưng trường bình dân. Giếng nước nhà nó nằm ở ngay bên hông nhà, bao bọc xung quanh là một bụi chuối rậm rạp. Đến như tôi là người ngoài còn nhớ rõ chi tiết nhà thằng Tô tới vậy, chị Lảnh là người trong nhà, lại quá quen thuộc với việc đi ra bụi chuối hằng đêm thì chẳng có lí do nào lại đi lạc ra tận chỗ cái giếng cạn cả. Nghe câu chuyện thằng Tô kể, tôi chỉ có thể nghĩ đến một lí do duy nhất: chị Lảnh bị ma dắt.

Những đứa khác có lẽ cũng có ý nghĩ giống như tôi. Thằng Lĩnh em rụt cổ, tặc lưỡi hỏi: “Vậy là bà Lảnh bị ma dắt hả?”

Bọn nhóc chúng tôi chơi với nhau bất kể tuổi tác, thành ra việc xưng hô không quá câu nệ, tiện chữ nào thì xưng chữ nấy. Thằng Lĩnh em mới học lớp hai, chị Lảnh thì đã lên lớp bảy, đường đường là nữ sinh cấp hai, nhưng vì lúc ở nhà vẫn suốt ngày chơi chung với nhau thành ra tụi tôi mặc định coi chị là người ‘đồng trang lứa’.

Thằng Tô là chúa thích vòng vo. Nó không trả lời câu hỏi của thằng Lĩnh em ngay mà kể tiếp câu chuyện ban nãy: “Ông nội tao thấy vậy liền bế chị Lảnh vào nhà và đặt lên giường ngủ. Ba má tao thấy bả nằm im ru trên tay ông nội liền chạy vào theo. Tao đang ngồi trên giường, thấy ông nội bế bà Lảnh vào thì tao nhảy luôn xuống đất đứng cho rộng chỗ. Ông nội với ba tao mỗi người một bên ngồi lay vai chị Lảnh. Má tao lúc đó chả biết làm gì, đành ngồi phía dưới, vừa bóp chân cho bà Lảnh vừa khóc.”

“Lay một hồi vẫn không tỉnh, sau cùng ông nội tao lấy ngón cái bấm mạnh vào đầu ngón tay trỏ của bà Lảnh. Thế là bả tỉnh dậy, ngơ ngác nhìn mọi người xung quanh, lúc nhìn thấy ba tao liền nhoài người qua ôm chặt cứng. Hồi lâu, nghe ba tao dỗ dành bà Lảnh mới từ từ bỏ ra. Bả từ từ kể lại những gì nhìn thấy, về cái bóng của thằng nhỏ giương cặp mắt mèo nhìn mình ngay trước lúc ngất đi. Ông nội tao nghe xong thì im lặng. Mấy người còn lại thấy ông nội đang suy nghĩ nên chẳng dám hỏi gì, chỉ ở xung quanh vuốt tay vuốt chân chị Lảnh. Sau cùng ông nội nói dù sao cũng khuya rồi, thôi mọi người vào ngủ trở lại, có gì thì ngày mai sẽ tính tiếp.”

“Suốt một tuần sau đó chị Lảnh được chia qua ngủ với ba tao, còn tao thì ngủ với má. Trong suốt một tuần đó quả nhiên chẳng có chuyện gì kì lạ xảy ra. Chị Lảnh tao nếu thức dậy nửa đêm sẽ khều cho ba tao dậy mới được ra ngoài.”

“Hơn một tuần sau, hôm đó xưởng mộc của ba tao có đơn hàng lớn, ba tao phải ngủ lại qua đêm ở xưởng, thành ra đêm đó mấy mẹ con tao ngủ chung. Tao được cái ngủ say như chết, nhắm mắt là ngủ khò khò. Chẳng hiểu là bao lâu, tự nhiên có người lay vai tao. Tao mắt nhắm mắt mở ngồi dậy thì thấy trong nhà đèn điện sáng trưng, ở bên cạnh là ông nội đang cố gắng đánh thức chị tao dậy. Nhìn thấy cảnh quen quen, tao lờ mờ nhận ra là bà Lảnh chắc lại đi lạc ra ngoài trường bình dân.”

“Sau khi ông nội tao bấm đầu ngón tay như lần trước thì chị Lảnh mới tỉnh. Mọi người hỏi tại sao bả ra ngoài mà không kêu má dậy đi cùng. Bà Lảnh lắc đầu liên tục, nói rằng không biết gì, chỉ là tự nhiên mắc tè nên mở cửa ra ngoài.”

“Quả nhiên lần này bả lại thấy thằng nhỏ hôm trước. Vì đã thấy nó một lần nên lần này bả không còn sợ nữa, cứ đứng yên đó nhìn lại nó. Thằng nhỏ thấy chị Lảnh nhìn mình liền cười khúc khích, sau đó nắm tay bả kéo đi. Bà Lảnh lúc đấy không biết gì, bị nó kéo thì đi theo. Lúc tới gần chỗ cái giếng thắng nhỏ buông tay bả ra. Nó tiếp tục đứng đó cười khanh khách, rồi chẳng nói chẳng rằng nó chạy nhanh về phía bà Lảnh. Bả thấy nó tiến lại bất ngờ thì nhắm tịt mắt lại, giơ hai tay ra phía trước theo phản xạ để ngăn thằng nhỏ. Vì nhắm tịt mắt nên bả chẳng thấy gì, chỉ cảm nhận được hình như có cái gì lướt qua những ngón tay, đập vào người mình, bả hét lên rồi ngất luôn. Cuối cùng lại là ông nội tao nghe tiếng hét thì chạy ra.”

“Ông nội tao sau khi nghe chị kể thấy chuyện lần này đã có vẻ nghiêm trọng hơn. Sau một hồi suy nghĩ ông nội kêu cả nhà tao vào ngủ lại, để ngày mai ông nội tính. Qua chiều hôm sau, khi chị em tao đã đi học về, ba má tao cũng đã hết ngày làm, lúc cả nhà ngồi bên mâm cơm chiều, ông nội tao mới bắt đầu kể cho cả nhà tao chuyện về cái giếng trước sân trường bình dân.”

“Ông nội kể, hồi ông nội còn nhỏ như tụi mình, trong đám bạn chơi chung ở làng có một đứa tên Công. Buổi trưa hôm đó ông nội cùng đám bạn chơi đuổi bắt trước sân trường bình dân. Chơi mệt, trời lại đang nắng, thế là cả bọn túm tụm lại xung quanh cái giếng để tranh nhau uống nước kéo từ dưới giếng lên. Tới phiên thằng Công, chẳng hiểu nó đứng kiểu gì mà trượt chân té xuống giếng. Cả bọn ông nội tao thấy vậy sợ tái mặt liền hò hét ầm ĩ.”

“Bên dưới giếng thằng Công quẫy nước ầm ầm. Đám ông nội tao nhanh trí thả cái gàu nước xuống dưới. Đứng ở trên cả bọn cố hét thật to để thằng Công nghe thấy mà cầm lấy cái gàu nước nhưng hình như nó không nghe được, cứ quẫy nước đùng đùng. Cả bọn liền chia nhau ra, ba đứa ở lại giữ cái gàu nước, bảy tám thằng còn lại, bao gồm cả ông nội tao, tản ra chạy khắp các nhà xung quanh để kêu người tới cứu. Xui một cái lúc đó đang giữa mùa gặt, lại là đang ban trưa, đa phần người lớn đều đang ở ngoài đồng, mấy nhà xung quanh chẳng thấy ai ra giúp.”

“Lúc ấy ở kế bên trường bình dân là nhà ông Bốn Gang, chính là nhà anh em thằng Lĩnh bây giờ. Ông Bốn Gang hồi đấy còn trẻ, mới hai mấy gần ba chục, đáng ra cũng phải ra đồng làm lúa. Hôm đấy ổng bị sốt nặng nên phải nằm ở nhà. Trời bên ngoài thì nắng, ổng lại đang mệt nên cứ nằm trong nhà ngủ li bì từ sáng tới trưa. Ban đầu lúc nghe tiếng mấy đứa nhỏ kêu ổng tưởng là tụi nó đang đùa giỡn như mọi khi nên không để ý. Một lúc sau ông Bốn nghe tiếng ông nội tao kêu ầm ĩ là có người té xuống giếng thì mệt mỏi bước ra. Thấy ông nội tao ông Bốn mới hỏi: “Cái gì vậy Tuất, thằng nào té giếng?””

“Thấy có người lớn ông nội tao mừng hết biết, chạy lại gần kéo ông Bốn đi, vừa kéo vừa tóm tắt lại sự việc. Ông Bốn lúc đấy dù chưa hiểu đầu đuôi tai nheo cũng đi theo ông nội tao. Tới nơi, thấy ba đứa ở lại đang ráng sức kéo căng sợi dây buộc vào gàu nước, có vẻ như bên dưới có vật gì nặng bám vào. Khi cả hai lại gần, quả nhiên là thằng Công đã cầm được vào cái gàu nước, tuy nhiên do ba đứa nhỏ sức yếu nên chẳng thể nào kéo lên được, chỉ có thể cố gắng cầm cự nắm chặt sợi dây cho thằng Công không bị chìm.”

“Thấy ông nội dẫn ông Bốn tới ba đứa kia mừng hết biết. Ông Bốn nhanh chóng cầm lấy sợi dây, cố gắng kéo lên nhưng không được vì trong người còn đang mệt. Một hồi sau, mấy đứa khác đi tìm người giúp quay lại, đi cùng tụi nó là mấy ông cụ đều đã già lụm cụm, có ông còn chống cả gậy. Nhìn thấy đoàn quân cứu viện đó ông Bốn chỉ lắc đầu ngao ngán, biết là chẳng thể nhờ vả gì được. Mà đúng là vậy thiệt, mấy ông già đó tới, thấy có thằng trai trẻ đang đang kéo sợ dây rồi thì liền đứng túm tụm xung quanh, mỗi ông một lời đưa ra ý kiến. Một ông thấy ông Bốn kéo mãi chẳng lên thì bỉu môi dè bĩu, chê sức trai gì mà yếu nhớt. Ông Bốn nghe vậy cũng chả buồn cãi lại, đứng đó nghỉ một lát để vừa lấy sức, vừa nghĩ cách làm sao kéo thằng nhỏ lên.”

“Một hồi sau, ông Bốn nhoài người xuống dưới giếng, cố nói to để thằng Công nghe thấy: “Mày cố cầm chặt sợi dây, quấn luôn vào cổ tay. Trên này bọn tao kéo lên từng chút một, kéo tới đâu thì mày đu theo tới đấy, hai chân bám theo thành giếng cho tụi tao dễ kéo.””

“Thằng Công nghe hết được lời của ông Bốn nên dạ một tiếng thiệt to. Ông Bốn kêu mấy đứa nhỏ nào mạnh nhất vào phụ với ông. Ông nội tao cùng ba đứa khác liền xung phong chạy vào. Ông Bốn dặn bốn đứa nhỏ cùng ông cầm lấy sợi dây, nghe tiếng hô thì đồng loạt kéo lên. Cả bọn răm rắp nghe lời. Xung quanh mấy đứa nhỏ còn lại cùng mấy ông già đứng lố nhố nhìn vào. Sau tiếng hô bắt đầu, ông Bốn và mấy đứa nhỏ bắt đầu kéo từng cái một, theo sau mỗi tiếng hô ‘Kéo!’ của ông Bốn.”

“Lần này nhờ có thêm người, cộng thêm việc thằng Công đu theo thành giếng nên giữa sợi dây và thành giếng có một khoảng trống, thành ra việc kéo nó trở nên lên dễ dàng hơn. Từng chút một thằng Công được kéo lên. Lúc gần tới nơi thằng Công từ từ buông sợi dây, bám hẳn lên thành giếng. Ông Bốn cùng mấy đứa nhỏ cùng đưa tay xuống, người cầm chân, người cầm tay, cùng trợ lực kéo thằng Công. Sau cùng thằng Công tự mình nhảy ra được. Ông Bốn bấy giờ cùng bọn nhóc cũng mệt đứt hơi, nằm vật luôn xuống đất mà thở phì phò.”

“Mấy ông cụ thấy đã hết chuyện thì lục tục kéo nhau ra về, chỉ còn ông Bốn với bọn nhỏ ngồi lại sân đình. Ông nội tao thấy thằng Công đã hoàn hồn mới cà khịa: “Suốt ngày vỗ ngực nhận mình là dân bầu, bơi giỏi nhất xóm, sao nãy ở dưới giếng quẫy nước như chó vậy?””

“Mấy đứa ngồi xung quanh nghe vậy liền cười ầm theo. Thằng Công bị lũ bạn trêu chọc cứ ngỡ sẽ bị quê, ai ngờ thái độ của nó hình như là sợ hơn là quê. Chờ bọn bạn cười hết nó mới nói: “Tao biết bơi, rớt xuống nước là tự động nổi, vậy mà hồi nãy cả người tao cứ nặng như chì, cứ như là bị ai kéo xuống!””

“Mấy đứa nhỏ nghe vậy tất nhiên là không tin, cho rằng thằng Công bịa chuyện để chữa ngượng nên tiếp tục cà khịa: “Ma da thì ở sông mới có, chứ ma da nào lại chui xuống giếng mày?””

“Thằng Công biết không cãi được, chỉ ậm ừ: “Tao không biết có phải ma da không, tao chỉ thấy có bàn tay bám lên cổ tao giống như là tay trẻ con.””

“Nghe tới đây thì cả bọn đồng loạt cười lớn và khẳng định luôn là thằng Công bịa chuyện. Sau này cái giếng bị lấp lại, không ai bị rớt xuống giếng nữa, thành ra câu chuyện của thằng Công cũng dần bị quên đi. Hơn hai chục năm sau, đám nhóc năm xưa lớn lên, ai cũng có vợ con. Ông Công sau cái đợt đi chặt cây đa ở xã với ông nội thằng Rô, về sau cùng với năm người khác bị rớt xuống bầu nước, tiếc là lần này bị đuối nước rồi chết thiệt chứ không may mắn như hồi còn nhỏ. Mọi người trong làng hồi đó đều cho rằng ông Công bị chết nước là do bị quỷ thần trong cây đa dìm chết, chỉ có ông nội tao là nghĩ hơi khác. Lúc đứng kế bên đám ông Bốn Gang nhìn cái xác ông Công được kéo lên đắp chiếu nằm trên bờ, ông nội tao bỗng nhớ lại cái lần ông Công té xuống giếng năm xưa. Ông nội tao nghĩ thầm trong lòng: “Số thằng Công xui quá, từ xưa đã dính tới nước. Hồi trước hình như nó có nói bị một thằng nhỏ kéo, không biết lần này ai kéo nó?””

“Cũng kể từ đấy ông nội tao nhìn cái giếng cạn trước sân trường bình dân bằng một ánh mắt khác. Ông nội tao tin những gì ông Công thấy năm xưa là thật. Cái giếng dù đã được lấp lại, nhưng biết đâu cái vong ngày xưa dìm ông Công dưới giếng vẫn còn quanh quẩn cạnh đó. Thành ra khi nghe chị Lảnh tao kể về cái bóng của thằng nhỏ, ông nội tao liền nghĩ ngay về cái vong mà ông Công nhìn thấy năm xưa.”

Thằng Tô kể tới đây thì cả bọn từ lúc nào đã ngồi nép sát vào nhau, mặc cho lúc đó trời nóng như cháy da, đứa nào đứa nấy mồ hôi nhễ nhại.

Thằng Tô sau một hồi lấy hơi, đang định kể tiếp thì bỗng nó thay đổi thái độ, suỵt cả bọn im lặng rồi cụp đầu xuống đất. Tụi tôi không biết nó suỵt cái gì. Chợt nhớ ra cả bọn đang ngồi xoay lưng lại với cái giếng, chỉ có thằng Tô đang ngồi xoay mặt về phía đó, tụi tôi liền cảm thấy hơi rờn rợn. Lẽ nào thằng Tô vừa thấy cái gì? Phải chăng là thằng nhỏ kia?

Tụi tôi đang ngồi co hết người lại thì nghe từ đằng sau có tiếng bước chân tiếng lại gần. Cả bọn lúc này đều đang sợ muốn đái ra quần nên chẳng đứa nào dám ngẩn lên, cứ cúi gằm mặt nhìn xuống đất.

Tới lúc mặt thằng Lĩnh em nhìn như muốn xỉu tới nơi thì tôi nghe có tiếng con gái từ phía sau phát ra: “Tụi bay làm gì mà cả đống ngồi im ru vậy?”

Nghe cái giọng thân quen, cả bọn liền ngước đầu lên mà nhìn, sau đó phá ra cười vì sự chết nhát của mình. Tiếng nói là của chị Lảnh. Thì ra thằng Tô thấy chị nó từ xa lò dò bước lại thì sợ vỡ mật vì đang kể chuyện về chị mình, lại là chuyện liên quan tật xấu của bả nên mới có cái vẻ mặt sợ sệt như vậy. Nó suỵt cả bọn im lặng mà chẳng có một lời giải thích làm cả bọn thần hồn nát thần tính, cứ nghĩ là giữa ban ngày lại gặp ma.

Nghe chị Lảnh hỏi, cả bọn liền quên bén lời dặn của thằng Tô ban nãy, nhao nhao trả lời: “Tụi tui đang ngồi nghe thằng Tô kể chuyện có người hay đi tè đêm!”

Thằng Tô giơ tay lên tính cản lại nhưng đã quá trễ. Chị Lảnh nghe tụi tôi khai chuyện thằng em mình đang kể xấu chị nó thì mặt liền đỏ bừng vì xấu hổ, nhảy ngay tới chỗ thằng Tô, xách hai lỗ tai nó lên. Chị Lảnh là con gái, dù lớn hơn nhưng sức chỉ ngang với thằng Tô, nếu muốn thằng Tô hoàn toàn có thể đẩy chị nó ra. Nhưng có lẽ vì biết tội của mình nên nó đành ngồi im chịu trận cho chị nó kéo tai.

Bọn tôi ngồi đó nhìn cái hoạt cảnh tỉ đệ tương tàn, ngoài miệng giả vở nhao nhao ‘Tha cho nó đi!’ nhưng trong bụng cứ thầm cổ vũ ‘Nhéo cho đứt tai nó đi!’. Hồi lâu sau, thấy đã hả cơn giận, chị Lảnh thả hai tai thằng Tô ra rồi ngồi xuống nhập bọn với tụi tôi và hỏi: “Nó kể chuyện tao gặp ma phải không?”

Cả bọn liền gật đầu xác nhận. Thằng Địa nhanh nhảu đáp thêm: “Đang kể tới cái đoạn ông Năm Tuất kể cho cả nhà nghe chuyện ông Công té xuống giếng hồi xưa!”

Ông Năm Tuất chính là ông nội của chị em thằng Tô. Chị Lảnh lúc nãy còn thẹn đỏ mặt, giờ nhập hội với bọn tôi thì hoàn toàn quên bén cái tật tè đêm của mình, coi như là chuyện thường. Chị ngẩn cao đầu, chống hai tay lên hông, ra vẻ là người quan trọng và nói: “Vậy là đoạn tiếp chỉ có có tao mới kể được. Thằng Tô chiều hôm đó bị bắt ở nhà, sức mấy mà kể!”

Thằng Tô thấy quyền lực của mình sắp bị chiếm mất liền cố vớt vát: “Em ở nhà cũng biết vậy, tối đó về ông nội có dặn cả nhà lại một lần nữa chớ bộ!”

Lời phản khán yếu ớt của thằng Tô mất hoàn toàn tác dụng. Chị Lảnh là nhân vật chính của câu chuyện, nghe chính miệng chị kể tất nhiên là chân thật hơn nhiều so với thằng Tô. Bởi vậy, không ai bảo ai, cả bọn liền hướng đầu về phía chị Lảnh, nhao nhao đề nghị chị kể tiếp. Thằng Tô thất thế, mặt xụi lơ như thằng Địa khi nãy, buồn rầu chuyển giao quyền lực lại cho chị mình.

Chị Lảnh chậm rãi bắt đầu: “Ông nội chị kể xong chuyện ông Công rớt xuống giếng thì kết luận luôn: “Cái giếng cạn nằm ở đó từ lúc đình làng mới xây đến tận bây giờ, không biết đã trải qua những chuyện gì, chắc chắn quanh cái giếng có những thứ không sạch sẽ như hồn người chết đang lảng vảng. Con Lảnh là con gái, cộng thêm vía nó yếu, chắc là bị cái vong đó nhắm phải nên dễ bị dắt đi. Hồi sáng tao đạp xe xuống Hòa Lợi để hỏi ý thầy Lại. Thầy Lại đã bày cho tao cách để cái vong đó không ám theo con Lảnh nữa!””

Cả bọn nghe đến hai chữ ‘thầy Lại’ thì nhổm hết người lên để nghe cho rõ. Thầy Lại là thầy phép nổi tiếng nhất cả huyện. Tất cả mọi người từ nhỏ tới lớn chưa ai là chưa từng nghe truyền thuyết về cái lần thầy Lại trừ ma trên đường tỉnh lộ. Bởi vậy từ lâu thầy được người đời truyền tụng là cao tay ấn, ma cỏ nào gặp phải thầy là phải chạy trước năm cây số.

Một ông thầy có tiếng như vậy cứ ngỡ sẽ khó gặp lắm, ấy vậy mà nghe chị Lảnh kể thì ông Năm Tuất đạp xe xuống nhà thầy cứ dễ như không. Tôi liền tròn mắt ngạc nhiên hỏi chị: “Sao tui tưởng đâu phải ai cũng gặp được thầy Lại? Ông Năm gặp được thầy dễ vậy hả?”

Chị Lảnh liền trả lời ngay: “Nghe ông nội kể thầy Lại ngày xưa đẻ ở làng mình, thầy theo sư phụ ở dưới Hòa Lợi học phép, sau này được gả con gái cho nên ở luôn dưới đó. Bởi vậy nên thầy hay ưu tiên giúp người làng mình.”

Tụi tôi nghe vậy thì liền gật gù, không còn gì thắc mắc nữa. Chị Lảnh lại tiếp tục kể: “Thầy Lại nói rằng cái con ma ở bên cái giếng cạn thầy đã biết từ lâu. Đã có lần thầy về làng định trừ nó đi nhưng không nỡ. Theo lời thầy thì quả đúng là vong của một đứa con nít. Nó quanh quẩn bên cái giếng vì ngày xưa nó chết ở dưới đó. Nó chết từ lúc quá nhỏ nên chính bản thân nó cũng chẳng nhớ vì sao mà mình chết, do vậy oán khí của nó cũng không nặng như mấy vong chết oan khác. Vì không có oán khí nên trước giờ nó chẳng hại ai bao giờ, chỉ thi thoảng đu bám trêu chọc người khác. Lần này nó bám theo chị có lẽ vì chỉ mình chị là thấy được nó nên nó muốn có người chơi cùng với mình!”

“Sau cùng thầy Lại nói cho ông nội chị cách để cái vong không làm phiền nữa: “Tôi nói cái này, chắc là ông khó mà đồng ý, nhưng có làm hay không là tùy ở ông. Cái vong đó vì chưa rõ lí do mình chết nên chưa đầu thai được. Nó ở yên quanh cái giếng suốt bao năm nay, tự nhiên bây giờ nó lại bắt đầu xuất hiện liên tục, tôi nghĩ là nó có linh cảm gì đấy. Tôi không biết vì lí do gì, nhưng tôi cảm thấy có lẽ có liên quan đến cái chết của nó. Bởi vậy, ngay lúc này, nếu được, tôi hi vọng ông có thể rước nó về nhà thờ cúng tạm một thời gian. Một phần coi như là làm phước, phần khác sẽ khiến nó không quậy phá nữa. Thông thường một khi vong đột nhiên có linh cảm, tôi tin ngày nó được siêu thoát không còn xa nữa. Từ giờ tới lúc đó, tôi hi vọng ông có thể cho nó một chỗ ấm cúng!””

“Ông nội chị nghe xong cũng hoàn toàn bất ngờ. Ban đầu ông nội nghĩ chỉ cần thầy Lại ra tay trừ nó đi là xong. Vậy mà thầy lại khuyên rước hẳn cái vong đó về nhà thờ. Mặc dù có chút nghi ngại, nhưng vì đó là lời của thầy, ông nội chị sau cùng quyết định sẽ tin lời, rước thằng nhỏ về thờ cúng một thời gian cho đến lúc nó được siêu thoát!”

Tụi tôi lúc này đã không còn chỗ nào để co người được nữa. Cái viễn cảnh rước vong về nhà thờ, chỉ nghĩ tới thôi đã thấy rợn người.

Chị Lảnh chẳng quan tâm đến sự chết nhát của tụi tôi, tiếp tục kể: “Tụi mày cũng biết ông nội chị trước giờ là người trông coi trường bình dân, coi ngó đồ đạc bên trong, lâu lâu lại thắp nhang cúng bái cho các vị trong đó, đều là những việc có dính tới tâm linh, nên khi nghe ông nội nói sẽ đưa vong đứa nhỏ về nhà thờ cúng thì mọi người không ai ngạc nhiên mấy. Ba má chị hoàn toàn tin ở ông nội nên ông nói sao thì đồng ý vậy.”

“Tối hôm đó, ông nội dặn bà nội ở nhà coi thằng Tô, đừng để nó đi ra. Ba má chị phụ ông nội bưng theo bánh kẹo và bát hương ra chỗ cái giếng. Chị cũng đi theo, bưng hai cái đèn hột vịt ra. Ông nội chị sắp xếp đồ lễ lại một lượt trên thành giếng, sau đó trải chiếu xuống nền đất. Xong xuôi ông nội kêu tất cả mọi người lại. Ông nội quỳ ở phía trước, đằng sau là chị với ba má, chị quỳ ở chính giữa.”

“Hai cây đèn hột vịt được thắp lên. Ông nội từ từ rút ba cây nhang ra, châm vào ngọn đèn đang cháy để mồi. Khi cả ba cây nhang đều đã cháy đỏ, ông nội bắt đầu lâm râm khấn. Ban đầu ông nội khấn rất nhỏ, chị không nghe rõ là ông nội khấn gì, nhưng chị đoán hình như là bài kinh phật mà ông nội vẫn hay khấn khi thắp hương trong trường bình dân. Sau khi đã khấn xong, ông nội nói lớn: “Tôi là Nguyễn Văn Tuất, ông nội của cháu Nguyễn Thị Lảnh. Hôm nay tôi dâng lễ xin được thỉnh vong về nhà nhang khói, không phải chịu lạnh lẽo ở ngoài này nữa. Nếu vong có đồng ý xin hãy cho tôi biết!””

“Ông nội nói xong thì im lặng nhìn lên chỗ đồ cúng như chờ cái gì đó. Chị ở phía sau nghe ông nội khấn vậy trong lòng có chút thắc mắc. Vong thì làm sao trả lời được mà ông nội lại hỏi? Sau một hồi lâu im lặng ông nội lại hỏi một lần nữa: “Nếu vong đồng ý để tôi rước về nhà thì xin cho tôi được biết!””

“Tiếp tục là một khoảng im lặng. Chị ngồi đó chờ lâu quá đâm ra chán, đưa mắt nhìn bốn bề chung quanh thì chẳng thấy gì ngồi những cái bóng đen nhờ nhờ trong màn đêm. Thế là chị lại quay đầu về, ngước nhìn lên chỗ đặt đồ lễ. Chị để ý thấy một cái bánh in đang nằm thò hẳn ra trên dĩa, có cảm giác sắp rớt xuống đất tới nơi. Ba má với ông nội chị vẫn đang chăm chú nhìn về phía bát hương nên có vẻ không ai để ý tới cái bánh đang nằm vắt vẻo. Sợ nó bị rớt xuống đất, chị nhanh nhảu bò lại, định đẩy nó vào trong. Ai ngờ đâu chị mới động tay vào thì thấy mặt mũi tối sầm rồi không còn biết gì nữa. Lúc mở mắt ra thì chị thấy mình đang nằm trong nhà, ở bênh cạnh là ông nội đang ngồi kế bên bóp tay cho chị.”

Chị Lảnh kể tới đây thì cả bọn liền nhao nhao cả lên, bảy tám đứa nhóc cứ mồm năm miệng người tranh nhau hỏi chị Lảnh là có chuyện gì xảy ra. Chị Lảnh toang mở miệng thì thằng Tô đã nhanh nhảu cướp lời: “Khúc này để tao kể. Lúc đấy tao đang ngồi ở nhà với bà nội tao. Tivi đang chiếu tới đoạn Dương Quá với cô Long song kiếm hợp bích đánh ông pháp sư Mông Cổ thì nghe bên ngoài có tiếng chân lào xào. Tao ngoái cổ nhìn ra thì thấy bà Lảnh với ông nội đang đi ở trước, đằng sau là ba má tao mặt mày tái mét. Thấy ông nội đang cầm cái bài vị đi hướng về phía bàn thờ tao đoán là đã rước được vong xong nên tao chạy lại, đang tính mở miệng hỏi thì bị má tao suỵt im lăng. Thế là tao đành ngậm bồ hòn, tò tò đi theo cả nhà vào gian thờ.”

“Ông nội tao chậm rãi đặt cái bài vị mới vào chỗ trống đã được dọn sẵn trên ban thờ, sau đó xoay người qua nhìn chị Lảnh. Ba má tao cũng tương tự, cứ đứng ở sau lưng mà nhìn chị Lảnh. Tao không hiểu vì sao, nhưng vì lúc đó tất cả mọi người đều im lặng nên tao cũng chẳng dám hỏi. Bà Lảnh đứng đó nhìn bàn thờ hết một lượt, sau đó quay người lại nhìn hết tất cả mọi người. Lúc bà Lảnh nhìn tới tao, tao bỗng thấy là lạ. Bình thường chị em tao nói chuyện tía lia với nhau, vậy mà tối đó bả chỉ đứng nhìn chằm chặp. Tao ráng nhíu mày ra dấu hỏi bả là tại sao nhưng bả chẳng trả lời, mặt cứ cứng đờ ra. Sau cùng, khi đã nhìn hết một lượt, bả quay người về phía ông nội và gật đầu. Ông nội thấy vậy liền gật đầu lại. Ông nội vừa gật xong thì bả Lảnh cũng đột nhiên xìu người té luôn xuống đất. Lúc đấy may mà có bà nội tao đứng ở bên nhanh chóng ngồi thụp xuống đỡ, nếu không chắc giờ này đầu bà Lảnh bị u một cục rồi!”

Tụi tôi ngồi nghe tới đây thì bắt đầu lờ mờ nhận ra lí do chị Lảnh có những biểu hiện bất thường. Thằng Lĩnh em lắp bắp hỏi: “Bà… bà Lảnh bị ma nhập đúng không?”

Thằng Tô nhanh chóng gật đầu: “Ừ, bả bị ma nhập. Thấy bả té xuống, ông nội tao lại bế bả vào giường và bấm ngón trỏ như mấy lần trước. Lúc tỉnh lại bả chỉ nhớ tới cái lúc đưa tay đẩy cái bánh in vào. Ông nội tao nói, lúc đó ông nội đang chờ ý kiến của vong thằng nhỏ, nếu nó đồng ý thì mới rước nó về. Có vẻ thằng nhỏ không biết phải giao tiếp với ông nội ra sao, sau cùng khi thấy chị Lảnh bò lại nó liền nhập vào chị Lảnh để đi vào nhà. Lúc chị Lảnh gật đầu với ông nội cũng chính là thằng nhỏ kia đồng ý sẽ về nhà tao!”

Thằng Tô nói dứt câu cũng là lúc tụi tôi đồng loạt rú lên ra chiều kinh hãi. Tôi nghĩ tới cái cảnh ngay lúc này đang có một cái vong lượn qua lượn lại trong nhà ông Năm Tuất thì lông tay cứ dựng hết lên. Thằng Địa mặt nhăn nhó: “Nhà thằng Tô có ma rồi, từ nay đá banh xong tao không vào nhà nó uống nước nữa đâu, tao sẽ vào nhà anh em thằng Lĩnh.”

Thấy thằng Địa nói đúng tiếng lòng cả bọn không hẹn mà đều gật đầu đồng ý. Thằng Tô nghe nhà mình bị nói có ma nên tức lắm, cãi lại: “Bộ mình nhà tao có ma đấy, ông Bốn Gang mới chết có một năm, chắc vẫn còn lòng vòng trong nhà anh em thằng Lĩnh kia kìa, tụi mày vào mà uống!”

Tôi nghe thằng Tô nói vậy cũng liền ngớ người nhớ ra. Quả đúng là ông Bốn Gang mới chết năm rồi. Nhưng vào nhà anh em thằng Lĩnh uống nước thì tôi không sợ vì tôi biết hồn của ông Bốn Gang đang ở ngoài gò mả, tuần trước chính ông là người chỉ dẫn cho nhà chị Hà tìm được xác ông nội mình, sức mấy mà ông Bốn Gang còn lòng vòng ở nhà được. Vì tôi đã quyết định không kể lại chuyện buổi tối đi xem thầy Ba cầu hồn nên tôi cũng đành im luôn, không cãi lại lời thằng Tô.

Tôi không, nhưng mấy đứa khác thì có. Thằng Lĩnh anh nghe ông nội mình bị đem ra dọa ma liền hặc lại: “Ông nội tao là chết già nên không có phá phách người ta, chứ cái vong ở nhà mày nó mới quậy đó!”

Thằng Tô nghe vậy cũng không vừa: “Quậy là hồi trước kìa, từ sau khi rước nó về thì nó đâu có phá nữa, không tin bọn mày hỏi bà Lảnh đi!”

Nó nói xong thì quay qua chị Lảnh chờ xác nhận. Chị Lảnh gật đầu: “Ừ, từ lúc rước nó về tới giờ chị không còn bị dẫn nữa, ba má chị cũng không cần phải thức đêm để canh cho chị!”

Thằng Lĩnh em ngồi im nãy giờ dột nhiên chen ngang hỏi một câu: “Ủa mà canh gì chị?”

Tụi tôi nghe xong câu hỏi của thằng Lĩnh em, chẳng hề bàn trước với nhau, cùng đồng loạt trả lời câu hỏi của nó: “ĐỂ CHỊ ĐI TÈ!”

Tụi tôi nói xong liền cười ồ cả lên, đứng dậy ù té chạy. Chị Lảnh ngồi đó thẹn đến đỏ mặt, nhặt mấy viên sỏi bên canh ném về phía bọn chúng tôi nhưng hoàn toàn vô dụng vì lúc này tất cả đã chạy quá xa.

Chỉ tội thằng Tô chẳng thể chạy đi đâu được, đành ngồi yên đó, đưa tai ra cho chị nó véo.

HẾT

Ngày 31 tháng 10 , 2019

HALLOWEEN

REPOST VUI LÒNG GHI KÈM TÊN TÁC GIẢ VÀ DẪN LINK NGUỒN

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s